Đặng Thai Mai: Tiểu sử, cuộc đời cùng những tác phẩm nổi bật

Minh Vũ 8 giờ trước

Đặng Thai Mai với bút danh Thanh tuyền, Thanh Bình nguyên là Bộ trưởng Bộ giáo dục Việt Nam (tháng 3/1946 –  11/1946) kiêm Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam (1960). Ông vừa là một nhà giáo, nhà văn nổi tiếng trong lịch sử. Hãy cùng Zicxa books tìm hiểu về tiểu sử, sự nghiệp của vị giáo sư qua bài viết dưới đây nhé!

1. Sơ lược về tiểu sử của GS. Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902 – 1984) sinh ra và lớn lên ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nho giáo có truyền thống hiếu học. Cha ông tên Đặng Nguyên Cẩn, là người có học thức uyên thâm từng đỗ phó bảng. Sau đó, cha ông tham gia vào phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ cùng với cách nhà cách mạng lúc bấy giờ: Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. Phong trào bị thực dân Pháp đàn áp, Đặng Nguyên Cẩn cùng các nhà yêu nước bị đày đi Côn Đảo.

Cha bị bắt, ông về sống bên nội và được bà nội chăm sóc từ năm lên 6 tuổi (1908). Thừa hưởng sự giáo dục, vốn tri thức từ hai bên gia đình nội ngoại, ngay từ nhỏ ông đã thể hiện sự siêng năng hiếu học của mình. Ông chăm chỉ học chữ Hán, chữ Quốc ngữ theo chương trình Đông Kinh nghĩa thục. 

Đặng Thai Mai

Nhà văn, nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai

Thời tiểu học và trung học GS. Đặng Thai Mai theo học ở trường chính quy tại thành phố Vinh (1917-1924). Ngay từ những ngày còn thơ bé, ông đã thể hiện sự  hiểu biết sâu rộng của mình. Có lẽ tất cả sự hiếu học mà ông có là được thừa hưởng từ gia đình đặc biệt là cha ông. Khi Đặng Nguyên Cần đi đày ở Côn Đảo tất cả tù nhân ở đây coi cha ông như một bậc thầy về tri thức ở mọi lĩnh vực. Họ sẵn sàng làm mọi việc để được nghe cụ giảng. Từng lời nói của cụ, lý lẽ của cụ đã được Đặng Thai Mai tiếp thu, học hỏi biến nó thành của riêng mình.

Sớm đã chịu cảnh bị thực dân Pháp đàn áp, lớn lên chàng thanh niên ấy đã hăng hái tham gia các phong trào cách mạng. Tiểu sử của ông gắn liền với từng giai đoạn của lịch sử nước nhà.

2. Sự nghiệp của Đặng Thai Mai

Năm 1925, ông gia nhập Đảng Tân Việt và tham gia phong trào đòi thả Phan Bội Châu, truy điệu Phan Châu Trinh.

Năm 1928, Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng Đông Dương, Đặng Thai Mai trở thành giáo sư trường Quốc Học Huế. Một năm sau, khi Đảng Tân Việt tan rã, GS bị xử một năm tù. Ra tù, ông về dạy học tại Huế một thời gian.

Đặng Thai Mai

Trường Quốc học huế – Nơi giáo sư công tác

Năm 1930, ông lại bị bắt giam 3 năm vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ. Năm 1932, ông được thả ra và đến dạy học, sinh sống tại Gia Long, Hà Nội.

Năm 1935, Đặng Thai Mai với Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp… thành lập trường tư thục Thăng Long. Năm 1935, ông cùng những người bạn tiếp tục lập ra Hội truyền bá chữ Quốc ngữ.

Trong giai đoạn 1936-1939, ông bắt đầu đặt bút vào viết báo và sáng tác một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp.

Là người theo chủ nghĩa dân tộc, yêu nước và nhân văn thế nhưng ông đã chuyển sang chủ nghĩa Cộng Sản một cách dễ dàng như bao anh em bạn bè khác. Ông tham gia phong trào mặt trận bình dân, tham gia sáng lập một số tổ chức. Năm 1939, ông ứng cử vào Viện dân biểu Trung Kỳ. Sau thời gian đó những tác phẩm của GS lần lượt ra đời. Năm 1944: ông viết cuốn văn học khái luận và công trình Lỗ Tấn và tạp văn Trung Quốc.

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ông giảng dạy ở một số trường Đại học và nghiên cứu phê bình văn học. Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông tham gia và giữ nhiều chức vụ quan trọng tại các cơ quan nhà nước.

Dù bận rộn ở nhiều công việc khác nhau, thế nhưng GS vẫn dành thời gian cho công việc nghiên cứu và viết của mình. Ban đầu, ông không hề có ý định viết văn, tuy nhiên vì sự bức xúc với thực trạng xã hội lúc bấy giờ nên ông đã cầm bút để tố cáo, lên án bọn thực dân Pháp và tuyên truyền cho cách mạng. 

Trong sự nghiệp viết lách của mình, ông đã để lại cho nhân loại 14 đầu sách. Hầu hết các tác phẩm đều thuộc dạng nghiên cứu và phổ biến tri thức. Những công trình được ra mắt của Đặng Thai Mai từ nhỏ đến lớn đều là những dấu mốc hình thành và phát triển của ngành nghiên cứu văn học nước nhà.

Đặng Thai Mai

Những cuốn sách mà Đặng Thai Mai từng viết

 Có thể khẳng định rằng: Phong cách, con người của vị giáo sư tài ba này là sự kết tinh, hội tụ của nhiều nền văn hóa khác nhau. Ông hiểu và tường tận gốc rễ nền văn hóa phương Đông, phương Tây.

Văn phong của Đặng Thai Mai có nét lịch lãm, uyên thâm thể hiện sự từng trải ở  một nhà nghiên cứu. Những người thân thiết bên cạnh ông cho hay: Ông là một con người có lối sống giản dị, thân thiện dễ gần. Thế nhưng trong công việc Đặng Thai Mai lại thể hiện là một con người vô cùng nghiêm túc, miệt mài. 

Ở con người vị giáo sư ấy, vừa mang nét thâm trầm của nhà bác học phương Đông lại có chút hài hước của người Phương Tây. Con gái ông – Bà Đặng Thị Hạnh cho biết: Trong cuộc sống và công việc cha bà là một người chu đáo, tỉ mẩn và nghiêm túc. Với đồng nghiệp của mình, ông luôn sẵn sàng giúp đỡ, truyền cảm hứng sáng tạo nghiên cứu cho họ.

Trên cương vị là một thầy giáo, GS Đặng Thai Mai đã đào tạo ra biết bao nhiêu cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ… Không chỉ là một nhà giáo mẫu mực, ông còn là một nhà trí thức yêu nước, một tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập noi theo.

3. Giáo sư Đặng Thai Mai – Bố vợ của ba vị tướng

Năm 1928, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Loan và có 6 người con trong đó có 5 người con trai, 1 người con gái tất cả đều thành đạt. Đặc biệt, ông có tới ba người con rể là các vị tướng giỏi: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trung tướng Phạm Hồng Sơn, Trung tướng Phạm Hồng Cư. 

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai cùng ba người con rể

Con gái đầu tiên là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Bích Hà là vợ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng chỉ kém GS. Đặng Thai mai 9 tuổi. Trước đó giáo sư và con rể đầu đã từng làm việc cùng nhau, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cơ duyên trùng hợp khi Võ Nguyên Giáp được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, còn GS giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Vốn đã quen biết con gái của GS từ trước, sau bao năm gặp lại bà Đặng Bích Hà đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, tình cảm giữa hai người nảy nở.

Tình yêu của họ bền chặt hơn trong cách mạng và kháng chiến, đám cưới của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bà Hà diễn ra trong êm đềm và hạ sinh 4 người con, đều đã thành đạt.

Con gái thứ hai của Đặng Thai Mai lấy trung tướng Phạm Hồng Cư. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ họ kết hôn và có với nhau 3 người con. Phạm Hồng Cư là cục trưởng Cục Văn hóa, tổng cục Chính trị, sau đó đảm nhận các vị trí: Phó Tư lệnh, chủ nhiệm Chính trị… giai đoạn 1974 – 1978. Năm 1988, Phạm Hồng Cư được phong hàm Trung Tướng. Vợ ông – Con gái GS Đặng Thai Mai cũng là phó GS, tiến sĩ.

Vị tướng thứ 3 là con rể Đặng Thai Mai chính là Trung tướng Phạm Hồng Sơn. Năm 1954, con gái thứ tư của giáo sư là Phó GS, Tiến sĩ Đặng Anh Đào kết hôn với Trung tướng Phạm Hồng Sơn. Đám cưới của hai người được tổ chức long trọng tại Thanh Hóa. Vợ chồng họ có với nhau ba người con, cả ba cùng tốt nghiệp học vị tại Liên Xô. Phạm hồng Sơn liên tục giữ những chức vụ quan trọng:

Ngoài ra con gái thứ ba của ông Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thanh Lê cũng là vợ của nhà nghiên cứu Ý học, hiệp sĩ danh dự nước Ý – Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn. Bà Đặng Thị Lê từng là giảng viên giảng dạy tại khoa ngữ văn trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.

Hai người con trai của GS. Đặng Thai Mai là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thái Hoàng là giảng viên tại Đại học xây dựng, và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Xuyến Nhi đang công tác tại Viện Ứng dụng công nghệ.

Có thể thấy, các con của ông cũng thừa hưởng một nền giáo dục tốt, ai nấy cũng đều thành đạt. Điều đó một lần nữa khẳng định sức mạnh to lớn từ giáo dục gia đình đối với từng đứa trẻ.

4. Các giải thưởng nhà nước trao tặng GS. Đặng Thai Mai

Suốt cuộc đời mình, GS. Đặng Thai Mai đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp khoa học và cách mạng dân tộc.  Người đời mãi tưởng nhớ, biết ơn GS vì tất cả những gì ông đã làm cho dân tộc. Tất cả sự đóng góp ấy đều được nhà nước ghi nhận qua các giải thưởng danh giá: 

Trước những đóng góp to lớn của ông, để biết ơn cũng như tưởng nhớ người thầy giáo, vị giáo sư, nhà khoa học năm 1995 nhà nước đã quyết định lấy tên ông đặt cho một con đường nhỏ trên địa bàn quận Tây Hồ, Hà Nội. Phố dài hơn 1,1km nối từ khu biệt thự Tây Hồ sang đường Xuân Diệu, nơi có những ngôi đền chùa linh thiêng của thủ đô Hà Nội. Hiện nay, con phố là khu sinh sống lý tưởng của giới Hà Thành đem đến sự thư giãn mới mẻ. 

Ngày nay có rất nhiều ngôi trường cũng để tượng đài tưởng niệm ông, coi đó như một món quà tri ân, biết ơn những gì ông đã cống hiến cho nước nhà.

5.Các tác phẩm nổi bật

Đặng Thai Mai với tư cách là một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ông đã để lại cho nhân loại những di sản quý báu. Trong gần 40 năm, kể từ năm 1940 khi công bố những bài viết đầu tiên trên các tờ báo: Văn Mới, Thanh Nghị… đến năm 1985 hàng chục công trình, hàng nghìn trang viết đã được ra mắt độc giả. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến:

5.1. Văn hóa khái luận

Ra đời năm 1944, với gần 200 trang, là một trong những cuốn sách đầu tay của GS. Đặng Thai Mai. Có thể nói tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm này bởi giá trị, tầm vóc mà nó để lại cho hậu thế trong đời sống học thuật. Đây là nguồn lý luận quan trọng của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học sử của nước ta trong suốt những tháng ngày sau đó.

Đến với văn hóa khái luận, người đọc sẽ bị cuốn hút bởi tính uyên bác, lý lẽ sắc bén của tri thức trong tác phẩm. Cuốn sách của ông như một cuộc tranh luận mà ở đó vang lên nhiều ý tưởng mới mẻ. Thật đặc biệt khi cuốn sách với nội dung là học thuật tri thức khô khan lại xuất hiện những câu ca dao, những lời thoại dí dỏm đan xen trong đó.

Đặng Thai Mai đã vạch rõ những hướng đi của mình theo khung tri thức đa dạng, những chân lý được rút ra là sự chắt lọc tinh túy. Từ những định hướng dân tộc – khoa học- đại chúng cho đến sự phê phán cái lạc hậu đương thời đều được GS vạch rõ.

Văn học khái luận phần chính văn có 8 chương:

5.2. Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa Phục Hưng

 

Đặng Thai Mai

Văn hóa thời kỳ Phục Hưng

Được xuất bản năm 1949 tại nhà xuất bản Thanh Hóa, tác phẩm đã khắc họa rõ nét những nền tảng kiến thức cơ bản của văn hóa dưới thời kỳ Phục Hưng. 

Những tư tưởng như thế nào được xếp vào chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân văn có gì mới lạ và cao siêu sẽ được Đặng Thai Mai giải thích rõ trong cuốn sách. Theo tác giả, chủ nghĩa nhân văn của thời kỳ văn hóa Phục Hưng là một trào lưu mạnh mẽ, dồi dào nhất trong các trào lưu nhân văn từ xưa cho đến đầu thế kỉ xx.

Đặng Thai Mai đã phân biệt rõ sự khác biệt về con người, về học thuật  Tây Âu thời Trung Cổ trước khi diễn ra cuộc vận động văn hóa Phục Hưng. Tác giả đã lấy dẫn chứng ở các quốc gia, nhân vật cụ thể để khẳng định được sức mạnh to lớn của chủ nghĩa nhân văn trên tất cả các phương diện.

5.3. Văn thơ cách mạng đầu thế kỷ XX

Cuốn sách là đề tài nóng hổi của giới phê bình văn lúc bấy giờ. Được viết năm 1961, tác phẩm là sự tổng hợp, so sánh, đối chiếu không đụng chạm đến bất kỳ một quan niệm tư tưởng nào.

Những trang phân tích đầy tính thuyết phục, lãng mạn làm sống dạy không khí văn chương hào hùng thời kỳ đó. Đây cũng là cuốn sách bạn nên tìm đọc.

Bằng kiến thức uyên thâm của mình, ngoài những cuốn sách trên ông còn viết rất nhiều những tác phẩm khác. Ông dịch hàng loạt các tác phẩm của Lỗ Tấn, Tào Ngu đưa các tác giả vào nền văn học Việt Nam. Ngoài ra ông còn là tác giả của các cuốn sách giáo khoa trong đó có sách dạy triết học Âu Á, cuốn Chinh Phụ Ngâm. Tên tuổi của ông được in dấu trong từng trang sách khẳng định vị thế, tài năng của GS với lịch sử nước nhà.

Cả cuộc đời mình GS. Đặng Thai Mai đã cống hiến hết sức có thể cho nền văn học, cách mạng nước nhà. Ngày 25 tháng 9 năm 1894, GS qua đời để lại cho hậu thế bao sự tiếc nuối. Nơi an nghỉ cuối cùng của ông tại nghĩa trang Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Có thể nói Đặng Thai Mai là một nhà trí thức đặc biệt trong giai đoạn lúc bấy giờ. Rất khó để xếp Đặng Thai Mai vào một lĩnh vực riêng biệt nào đó như: lịch sử, nhà nghiên cứu văn học, nhà Sư phạm uyên bác, nhà chính trị, nhà văn hóa… Tất cả đều có sự đóng góp của GS. Đặng Thai Mai. Ở bất cứ thời kỳ nào, GS cũng được hậu thế dành trọn niềm tin, sự mến ngộ và cảm phục.